Đã lâu tôi ít lên mạng xã hội. Mỗi lần lướt tin, tôi luôn có một cảm giác: dường như mọi thứ đang trở nên ồn ào quá đỗi và trong cái ồn ào ấy tôi không còn nghe được điều gì cho thật rõ.
Từ ngày có trí tuệ nhân tạo, ai cũng có thể viết, ai cũng có thể nói về mọi điều và thoạt đọc thì phần nhiều đều thấy đúng, thấy hay. Chỉ khi ngồi lại, để cho những con chữ ấy lắng xuống, tôi mới nhận ra ở đâu đó có chỗ khiến mình lấn cấn. Thế là tôi lùi lại. Lắm lúc, chỉ mở lên để đọc hay xem những gì quen.
Một buổi, vừa mở điện thoại thì một bài đăng hiện ra trước mắt. Tôi dừng lại nơi tấm hình một người phụ nữ dáng dấp quê mùa đứng giữa đồng lúa, phía trên là hai tiếng nổi bật: tánh biết. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ khiến tôi tò mò bấm vào. Chị nói bằng một giọng chân phương, thủng thẳng, như đang trò chuyện với người thân chứ không phải đang giảng. Và chính vì không ra vẻ giảng nên chẳng ai buồn đề phòng. Tôi nghe thử xem chị hiểu tánh biết đến đâu, và lạ thay, chị nói đúng. Đúng đến mức tôi lướt hết đoạn này sang đoạn khác, muốn biết chị là ai, tu tập ra sao mà có được sự nhận biết ấy. Suốt những thước phim, tôi không tìm thấy một chỗ nào gọi là sai; mọi điều đều ổn thỏa, và bên dưới, người xem thi nhau tán thán.
Bình thường, gặp được một người thông đạo là điều tôi mừng, bởi tôi vẫn thích ngồi lại để nghe, để xem mình học được gì từ họ. Nhưng lần này, lòng tôi vẫn còn đọng lại một điều gì đó, một cảm giác mơ hồ không sao lý giải nổi bằng lý lẽ. Có những thứ con người ta khó lòng che giấu và ánh mắt là một trong số đó, bởi ánh mắt là nơi nội tâm thường lui về trú ngụ. Một người thật sự an tĩnh ở bên trong, ánh mắt họ mang một chất riêng khó lẫn; còn ở một người đã thật sự liễu ngộ, cái chất ấy lại càng hiển lộ.
Tôi thử tìm hiểu thêm. Quả nhiên, chỉ vài năm trước thôi, chị không phải người nông dân chân chất như trong đoan phim bây giờ. Ngày ấy chị viết về chuyển hóa, về năng lượng, giữa một nhóm người thuộc một tổ chức nhân danh sự phụng sự. Đọc đến đó thì tôi đã hiểu. Tôi lặng lẽ bấm không quan tâm rồi thôi. Ít hôm sau, một đoạn clip khác lại hiện ra, hẳn là do thuật toán sắp đặt. Lần này là một người đàn ông, nhưng cách nói, giọng điệu, chủ đề, thảy đều na ná như trước. Tôi không cần tìm hiểu nữa; tôi biết họ cùng đến từ một nơi. Và trong khoảnh khắc ấy, tôi khẽ rùng mình. Rùng mình vì một người vẫn tự cho mình là bén nhạy như tôi mà cũng suýt không nhận ra cái điểm mù nằm sau những lời rất đúng kia. Tôi hiểu rằng những thước phim hiền lành ấy chỉ mới là điểm chạm đầu tiên của một cái phễu đang vận hành hết sức bài bản.
Tôi đặt điện thoại xuống bàn, úp mặt kính xuống dưới. Ngoài kia trời đang ngả sang chiều, thứ ánh sáng nhạt dần trên bức tường trước mặt, và trong một thoáng, cái ồn ào vừa rồi như lùi lại rất xa. Chỉ còn tiếng gió lay nhẹ mấy tàu lá ngoài hiên, tiếng một con chim nào đó gọi bạn phía sau vườn. Tôi ngồi im như thế một lúc, để lòng lắng lại, để cái cảm giác lấn cấn kia có chỗ mà lặng xuống. Rồi mới thấy mình muốn viết ra những điều này.
Câu chuyện nhỏ ấy là cái cớ để tôi ngồi xuống, viết về một điều mà tôi tạm gọi là tà kiến vi tế: những sai lệch trong cái thấy mà ta rất khó nhận ra, bởi chúng đang khoác lên mình chiếc áo của sự đúng đắn.
Nhà Phật gọi tà kiến là cái thấy lệch, cách nhìn không còn tương ứng với thực tướng của sự vật. Mà một khi cái thấy đã lệch thì mọi hành động nối theo sau, dù xuất phát từ thiện ý đến đâu, cũng khó tránh khỏi lệch theo. Kinh sách bàn nhiều về những dạng tà kiến, nhưng ở đây tôi không muốn dừng lại nơi những khái niệm ấy. Điều tôi bận lòng là những dạng kín đáo hơn, khó gọi tên hơn, mà có lẽ chính vì kín đáo nên mới đáng ngại.
Người học Phật, kỳ thực, rất dễ vướng vào một chỗ tế nhị: chấp vào chính giáo lý, cái mà nhà thiền gọi là pháp chấp. Có người đọc kinh rồi vận dụng một cách máy móc, đinh ninh rằng hễ điều gì không phải lời Phật dạy thì ắt là tà, hễ ai không đi đúng con đường mình cho là chánh pháp thì hẳn đang lạc lối. Tôi vẫn nghĩ đó cũng là một hình thức tà kiến, bởi nó biến chánh kiến từ một chuyện của nhận thức thành một chuyện của tuân thủ. Mà chánh kiến, tự thân nó, đâu phải là việc đi theo cho đúng lời ai; chánh kiến là cái thấy có khả năng làm vơi đi cái khổ và làm rộng thêm lòng thương.
Cùng là ngồi trước một trang kinh, mà hai người có thể đi về hai ngả rất xa nhau. Người học pháp đọc kinh, nghe pháp cốt để soi lại chính mình; càng học họ càng thấy rõ hơn cả mình lẫn người, và nhờ cái thấy rõ ấy mà lòng dần mềm đi, rộng ra. Người chấp pháp thì đi ngược lại: họ gom góp giáo lý để làm vững thêm cái khả năng phân loại của mình, để sắp người này vào ô tà kiến, xếp người kia vào hàng chưa hiểu đúng. Cho nên mới có chuyện học thuộc bao nhiêu kinh, theo hầu bao nhiêu vị thầy, tu tập ngần ấy năm trời, mà con đường vẫn cứ xa, nếu như càng đi cái ngã lại càng thầm lặng lớn thêm ra. Điều đáng ngại là người chấp pháp thường không hề biết mình đang chấp; trong lòng họ, họ vẫn đinh ninh mình đang gìn giữ chánh pháp, đang thương mà muốn kéo người khác ra khỏi tà kiến, chỉ vậy thôi.
Chẳng phải vô cớ mà nhà thiền để lại một câu nghe qua thật lạnh người: gặp Phật giết Phật. Đó là một lời phá chấp đến tận cùng, nhắc rằng ngay cả Phật cũng đừng biến thành một đối tượng để bám víu. Học Phật, suy cho cùng, không phải học cho thành thạo cái nghề phân định phải trái theo lối nhị nguyên; hễ còn nắm chặt cái này là đúng, cái kia là sai, thì tự thân sự nắm chặt ấy đã là một cái chấp rồi.
Có điều, lằn ranh giữa học pháp và chấp pháp mỏng manh đến độ ta phải thường trực tự soi lại mình mới mong không lẫn lộn. Đôi khi ta gặp một người mà chỉ cần ngồi nghe họ nói, lòng đã tự nhiên nhẹ và lặng hơn. Họ đón nhận cả những vụng về, những khổ đau của ta mà không hề bận tâm dựng lên cho mình một hình ảnh toàn bích, người như thế mới thật là bậc thiện tri thức, có thể nâng đỡ ta qua một quãng đường. Ngược lại, cũng có người lúc nào cũng sẵn sàng lên tiếng bảo vệ chánh pháp, kinh điển thuộc làu trên môi, thế mà ánh mắt lại thiếu vắng sự bình an, giọng nói pha chút đanh thép, tâm dễ bốc nóng và luôn tìm cơ hội để tranh biện. Ở những người ấy, tôi ngờ rằng có một cái ngã rất tinh vi đang ẩn mình dưới lớp áo tâm linh, và kinh điển, thay vì là con thuyền đưa người sang bờ, đã trở thành một tấm lá chắn. Tôi viết ra điều này mà trong lòng không có ý chê trách, bởi ai trong chúng ta, ở một khoảnh khắc nào đó, lại chẳng từng mượn một điều cao đẹp để che đi một chỗ non yếu của mình.
Lại có một chỗ tế nhị khác nữa. Đôi khi người ta mượn giáo lý để tự cấm mình không được có cảm xúc, không buồn, không giận, không thương, rồi gọi cái sự chai lì ấy là buông xả. Nhưng đó, nào phải là buông; đó chỉ là một lối trốn được che đậy khéo hơn. Bao lâu còn là con người, còn bị năm uẩn chi phối, thì ta không thể nào không có cảm xúc; và buông, đúng nghĩa của nó, là một người vẫn có đủ mọi thứ, chỉ khác ở chỗ họ biết rằng mình không cần phải bám vào chúng. Bởi vậy, ai đó dạy ta bước từ cái chấp này sang cái chấp khác, thì dù nghe có xuôi tai đến mấy, thật ra họ đang dẫn ta đi ngược đường.
Viết đến đây, tôi chợt nhận ra hai vai mình đã gồng lên tự lúc nào, hơi thở cạn dần nơi lồng ngực. Có lẽ cái tâm phân tích, khi đã chạy, thì tự nó cũng cuốn theo cả thân này, kéo nó căng lên theo từng lý lẽ. Tôi buông tay khỏi bàn, với lấy tách trà bên cạnh, đã nguội từ bao giờ. Ngoài cửa sổ, mưa không biết đã rơi tự lúc nào, những sợi mảnh và im, làm sẫm lại mấy phiến đá dưới sân. Tôi ngồi nhìn mưa một lát, không nghĩ gì cả, chỉ thấy hơi lạnh của tách trà trong lòng bàn tay và tiếng nước rất khẽ ngoài kia. Kỳ lạ thay, khi thân đã dịu lại, những ý nghĩ cũng tự chúng lắng xuống một bậc, bớt đi cái vẻ gấp gáp muốn phân định cho bằng được. Rồi từ chỗ lặng ấy, mạch nghĩ lại tự nó đi tiếp.
Bởi còn một dạng người khác nữa, có lẽ còn phổ biến hơn nhiều trong thời buổi này: những người không thật sự tu tập, nhưng đọc rất nhiều, nghe rất nhiều và nói lại rất hay. Tôi viết những dòng này với đôi phần dè dặt, bởi chính tôi cũng phải luôn tự canh chừng để mình đừng rơi vào chỗ đó. Thật ra phần lớn những điều họ nói ra, họ đều thành thật tin. Nhưng xét cho cùng, cái hiểu ấy vốn được hiểu bằng cái trí sắc bén của khái niệm, chưa kịp đi xuống thân, chưa từng đi qua thử thách của thực chứng. Nhà Phật có một cách phân biệt rất tinh: cái tuệ sinh từ nghe và đọc gọi là văn tuệ, và văn tuệ chưa phải là tu tuệ, lại càng chưa phải là chứng tuệ. Khoảng cách giữa ba tầng ấy không hề nhỏ, bởi hiểu một điều bằng cái đầu và thấy nó bằng cả tấm thân là một đoạn rất khác. Cho nên ta mới thấy có người bàn về buông bỏ, về vô thường nghe thật thấm, vậy mà khi va phải chuyện thật, phản ứng của họ lại chẳng mảy may giống với những gì họ vừa nói, nghĩa là cái biết ấy vẫn chưa thật sự trở thành đời sống của họ.
Cái bẫy ở đây tinh vi hơn ta tưởng nhiều. Những người ấy thường thông minh, có thể nối từ A sang B, từ B sang C rất nhanh; nhưng một chuỗi suy nghĩ trơn tru, mạch lạc, tiếc thay, chưa bao giờ đồng nghĩa với một cái thấy chính xác. Ta cũng sẽ dễ nhận ra, khi bị phản bác, họ thường khép mình như một phản xạ. Bởi, sâu bên dưới họ luôn mong được xác nhận rằng mình đúng, dẫu sự mong mỏi ấy có được che giấu kín đáo đến đâu. Người đang thật lòng đi tìm ánh sáng thì khác. Đứng trước một điều mới lạ, phản ứng đầu tiên của họ không phải là chống đỡ mà là lắng nghe, là mở lòng ra bằng sự tò mò, bởi tự trong thâm tâm họ đã biết cái biết của mình vốn hữu hạn, và họ vẫn còn đang trên con đường nới rộng ra mãi.
Còn một điều nữa, ít người để ý tới: cón những dạng đồng cảm bằng cái trí chứ không bằng cái tình. Họ có thể phân tích thật tinh tế vì sao người trước mặt đang khổ, nhưng lại không thật sự ngồi xuống bên người ấy mà cùng chịu chung nỗi khổ đó. Hiểu một nỗi đau từ xa, rốt cuộc, vẫn khác với hiểu nó từ bên trong. Và có lẽ đây mới là chỗ cốt tủy: giảng, tự nó, là một cách để khỏi phải sống. Khi đang thao thao về một điều gì, người ta được miễn cái việc đối diện với chính nó. Người đang giảng về từ bi không buộc phải ngồi lại với cơn giận của mình ngay trong khoảnh khắc ấy; người đang giảng về buông bỏ không buộc phải thật sự buông ngay lúc đó. Lời giảng dựng lên một khoảng cách êm ái giữa ta và sự thực hành, và cái khoảng cách êm ái ấy dễ bị nhầm lẫn biết bao với sự thông tuệ.
Tôi dừng ở đó, vì tự thấy giọng mình đang nặng dần. Chiều lúc này đã xuống hẳn, mưa cũng đã tạnh từ khi nào, ngoài sân chỉ còn mùi đất ẩm bốc lên dịu dịu. Ánh đèn trong nhà hắt ra một khoảng vàng ấm trên nền gạch, và mọi vật quanh tôi đứng yên trong cái tĩnh của buổi tối vừa sang. Tôi nghe rõ hơi thở của chính mình, ra rồi vào, chậm rãi, không cần phải đi đến đâu, không cần phải đúng với ai. Trong cái lặng ấy, những lý lẽ vừa rồi bỗng trở nên nhẹ hẫng, như thể chúng chỉ là mấy gợn xao động rồi cũng sẽ tự tan. Và tôi hiểu: rằng bao nhiêu phân tích kia, nếu không dẫn được về đây, về hơi thở này, về buổi chiều này, thì tự chúng cũng chỉ là thêm một tiếng nói hay nữa mà thôi.
Thật ra, để nhận ra tất cả tất thảy điều này, ta chẳng cần đến kiến thức Phật học cao siêu nào. Chỉ cần để ý vài điều. Sau khi nghe một người nói, lòng ta nhẹ đi hay nặng thêm. Người ấy đang đồng cảm với ta bằng cái trí hay bằng cái tình. Cái cách họ nói về một điều, có phải cũng chính là cái cách họ đang sống. Họ có đang lẫn lộn giữa kiến thức và tuệ giác. Và họ có đang lặng lẽ né tránh chính những cảm xúc, những vướng mắc của bản thân mình.
Những câu hỏi ấy, xét cho cùng cũng là để soi lại chính ta, vào những lúc ta đang đứng ở phía bên kia mà không hề hay biết.
Thời này, lời hay nhiều đến mức ta gần như không còn kịp nghe cho hết. Ở một chiều khác, chính cái hay của lời nói hay văn tự lại là tấm màn mỏng khiến ta không sao nhìn thấu được những gì đang đứng đằng sau nó.

No comments
Post a Comment