Mấy nay, tôi hay theo dõi hành trình Walk for Peace của các nhà sư đang bộ hành trên đất Mỹ. Họ là tập hợp của rất nhiều tu sĩ từ các quốc gia trong đó có cả Việt Nam. Tính đến nay đã được 91 ngày du hành đi từ Fort Worth và điểm dừng cuối là Washington, D.C. Điều thú vị là đoàn bộ hành đi đến đâu cũng đều nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân địa phương, nơi mà đa số người dân theo Kitô giáo. Tôi đã chứng kiến những giọt nước mắt, những cái quỳ rộp, những đóa hoa và hàng dài những người già trẻ, lớn bé đi theo đoàn.

Tất nhiên, hành trình không chỉ có hoa bướm. Đôi ngày, sẽ có một số người cực hữu ra sức lăng mạ hay cản trở bước đường của họ. Có lần, trong một cuộc đối đầu, một vị sư đã đến và đưa một đóa hoa cho một người đàn ông đang ra sức gào thét. Điều mà tôi nghĩ rằng, đã là một điểm cao trào mang tính biểu tượng của tinh thần hòa hợp, lòng yêu thương và từ bi của toàn chuyến bộ hành này. Anh cho tôi lời nguyền rủa, tôi tặng anh đóa hoa ngát hương.

Đoàn bộ hành đã làm một điều rất tốt đó là: dừng lại trước những đứa trẻ, nói lời cảm ơn,... hay tụng một bài kinh cầu nguyện cho một ai đó - một cặp đôi vừa cưới, một đứa trẻ tật nguyền, một người đang ốm đau, một người đang khổ. Người dân Mỹ họ đã ra đường, không vì hưởng ứng một “tôn giáo”, họ hưởng ứng bởi tấm lòng của những vị sư đang đi vì hòa bình trên một quốc gia - mà đang có quá nhiều chia rẽ và tổn thương. Sự xuất hiện của họ như một dòng suối tưới mát lên những bất đồng, nỗi bất hạnh và sự tuyệt vọng. Các nhà sư đã không thể làm gì hơn: ngoài sự hiện diện. Họ không cho mọi người một câu trả lời cho những khó khăn, không cho con đường giải thoát khỏi những mất mát. Nhưng sự cương trực và niềm thành kính lớn lao là ánh sáng sưởi ấm hàng triệu con tim trên bước đường mà họ đi qua.

Hôm nọ, tôi có đọc một bài phân tích về chuyến bộ hành này, đại ý nói rằng hòa bình trong lòng và hòa bình ngoài thế giới thực sự khác xa nhau. Hòa bình thật là khi trẻ em không còn chết vì chiến tranh, và việc một ai đó cảm thấy an yên một lúc trong lòng, không thể chấm dứt được bom đạn hay bạo lực.

“Không có bài thiền nào chặn được tên lửa.
Không có hơi thở nào ngăn được một cuộc không kích.
Và việc ai đó giữ “chánh niệm” có thể giúp giảm được khổ đau của người dân dải Gaza?
Cho nên nếu ai nói “hòa bình” mà chỉ có nghĩa là “hãy bình tĩnh trong lòng”…
thì rốt cuộc họ đang đem gì ra cho thế giới?
Một trạng thái tinh thần dịu hơn…
trong khi cỗ máy chiến tranh vẫn chạy bình thường.”
(trích)

Đọc tới đây, làm tôi nhớ đến hai chữ “tương tức”, vốn ít dùng mà cũng ít người hiểu.

tương tức: nghĩa là có trong nhau, là nhau

Khi ta nhìn vào bát cơm, ta có thể thấy mọi thứ như dòng nước, đám mây, người nông dân,... Vì có tôi đây nên có anh đó, vì có anh đó nên có tôi đây. Mọi hiện tượng không tồn tại độc lập mà nương tựa, chứa đựng và phụ thuộc lẫn nhau để cùng hiện hữu.

Một quốc gia không thể nào bình an, nếu không có từng con người bình an.

Sự phân định và chia rẽ vốn là nguồn gốc của mỗi khổ đau trên hành tinh này. Chúng ta phân biệt người và ta, phân biệt giữa anh và tôi dù sinh ra từ một mẹ, phân biệt nhà này với nhà kia, vùng miền này với vùng miền khác, quốc gia, chủng loài,... mà quên đi sự kết nối mật thiết của tất cả.

Kể từ thuở phôi thai của quả địa cầu này, cây cỏ nương đất mà sống, đất là mẹ của cây cỏ. Cây cỏ chịu ơn đất rất nặng, dày vò đất mà sống. Rồi khi động vật tiến hóa, chịu ơn biết chừng nào loài cây cỏ đã nuôi dưỡng mình. Đến phiên con người, ta đã dày vò và giết hại bao nhiêu loài cỏ cây và động vật để nuôi dưỡng thân mình. Thay vì chịu ơn, ta tiếp tục phân định và xem mình là giống loài cao cấp hơn, tách mình ra khỏi gia đình chung. Ta quên đi mối quan hệ thân hữu của mình, cắt đứt sợi dây liên lạc giữa ta cùng vạn vật.

Chưa bao giờ, con người lại trở nên cô độc như thế trên chính ngôi nhà của mình.

Mỗi chúng ta, khi quay trở về với hơi thở, quay về với thân mình, quay về làm chủ ngôi nhà trong tâm, sẽ dần chạm được một nền vững chãi bên trong. Khi đó, thế giới bên ngoài không còn hiện lên như một mối đe dọa. Ta không còn nhu cầu chống đỡ, cũng không còn cảm giác phải bảo vệ điều gì. Những ranh giới giữa đúng và sai, giữa ta và người, không còn sắc bén như trước. Ta bớt thấy mình thiếu thốn. Không còn phải vội vã mua thêm, chiếm thêm, trải nghiệm thêm, bởi ngay giây phút này đã đủ đầy.

Sự bình an nơi mỗi con người, khi được nuôi dưỡng đủ lâu, sẽ tự nhiên trở thành một nguồn năng lượng lành. Nguồn năng lượng ấy không cần phải lên tiếng, không cần thuyết phục hay dẫn dắt. Nó lan tỏa rất chậm, rất âm thầm. Trong một bữa cơm nấu bằng sự có mặt. Trong một dòng chữ viết ra không mang theo phán xét. Trong một nụ cười nhẹ với người lạ trên đường đi làm. Như những vòng tròn nhỏ trên mặt nước, cứ thế lan dần, lan dần.

Thử nghĩ xem, mỗi người là một trạm phát bình an, thì sự cộng hưởng như thế mạnh mẽ tới nhường nào. Khi ta còn đối trị với bạo lực bằng bạo lực, tổn thương bằng tổng thương gấp bội lần… thì cả thế giới này cũng sẽ chìm đắm trong bạo lực và tổn thương như thế.

Khi ta đặt chân đến một vùng đất mà cây cối héo mòn, dòng sông bị vùi lấp, ta có thể cảm nhận được rằng những con người sống nơi ấy cũng đang mang trong mình một dòng năng lượng cạn kiệt. Không phải ngẫu nhiên. Ta trong tất cả, và tất cả trong ta.

Bởi vậy, thay vì dời non lấp bể, thay vì kêu gọi hay hô hào những điều vượt quá khả năng của mình, có lẽ điều thiết thực nhất ta có thể làm là gieo một hạt mầm bình an ngay trong chính mình, rồi kiên nhẫn nuôi dưỡng nó mỗi ngày. Khi hạt mầm ấy đủ lớn, nó sẽ tự tìm đường bén rễ ở những mảnh đất khô cằn khác.

Ta không thể yêu cầu người khác ngừng chiến tranh, thôi giết chóc, hay học cách yêu thương nhau hơn. Ta chỉ có thể sống sao cho người đối diện có thể thấy được rằng, ngoài chia rẽ và phân định, còn có một cách hiện hữu khác. Ở đó, anh có trong tôi, và tôi cũng đang ở trong anh.

Thế giới này là một tổng hòa. Và khi đã thấy mình ở trong nhau, yêu thương không còn là lựa chọn đạo đức - mà là điều tự nhiên xảy ra.