Có lần, khi Thuận nhìn lại những gì mộc little farm đã từng làm ở Sài Gòn, bạn nói với tôi:
“Anh đứng trước nhiều cơ hội để giàu có như vậy, sao anh không tận dụng?”


Quả thật, hồi đó, mỗi lần mlf ra một loại bánh mới, mọi người đều rất háo hức. Khi lần đầu kể câu chuyện ống hút tre và tung ra thị trường các sản phẩm thân thiện môi trường, có những đối tác đặt số lượng lớn, có những lời đề nghị hợp tác. Rồi khi mở tiệm cafe mlf tại Tân Định, cũng xuất hiện những cơ hội nhượng quyền, hợp tác mở quán chay.

Song song với đó, tôi vẫn đi làm ở công ty. Mọi thứ nhìn chung đều ổn. Ở đâu, tôi cũng ráng làm việc để tròn vai của mình.

Nhưng không hiểu vì sao, đứng trước những cơ hội ấy, dù bản thân là người khá tức thời - biết người, biết ta, biết nhìn xa - tôi vẫn chọn lặng lẽ đi ngang qua. Dường như trong tôi có một điều gì đó lớn hơn sự tính toán thông thường, ngăn tôi bước vào.

Và rồi tới một lúc, tôi rẽ sang một hướng hoàn toàn khác, rất khác với những nền tảng mình đã vun bồi. Chỉ đơn giản là tới một lúc tôi thấy đủ rồi. Và khi đã đủ, tôi cần trải nghiệm một điều khác.

Thế là cuộc sống mới ở Măng Đen bắt đầu.

Một vùng đất núi rừng vừa đủ hấp lực, nhưng cũng vừa đủ truân chuyên. Khó khăn nhiều hơn, thử thách nhiều hơn. Nhưng chính trong giai đoạn mọi thứ đều chật vật ấy, một tiếng gọi khác lại thôi thúc: mở mlf ở Măng Đen, thay vì co lại để bảo toàn đồng vốn.

Giờ nhìn lại, tôi mới thấy một sợi chỉ dẫn xuyên suốt, âm thầm đưa mình đi đến ngày hôm nay.

Chuyện về hình thành mlf Măng Đen cũng bằng một sự mở lối như thế. Chỉ trong khoảng ba tháng, mọi thứ đã có thể vận hành, bằng một cách nào đó rất tự nhiên.

Chuyện retreat cũng vậy.
Trước đó, tôi chưa từng tham gia bất kỳ một retreat nào, chưa biết cách nó vận hành ra sao, dựa trên nền tảng nào, vì có ai chỉ dạy gì đâu. Vậy mà trong đầu, chỉ có một điều rất rõ: tôi muốn làm điều này.

Có một đêm, tôi ngồi xuống và viết gần 100 slide để định hình toàn bộ hoạt động của retreat và mlf. Cho đến bây giờ, mọi thứ vẫn đang vận hành gần như đúng theo những gì đã được viết ra trong đêm đó.

Dĩ nhiên, đôi lúc bên trong tôi vẫn có phần con người thế gian.
Nó thỉnh thoảng lên tiếng:
“Sao không làm thế này?”
“Sao không làm thế kia?”
“Cơ hội đó mà.”

Nhưng luôn có một điều gì đó khác giữ tôi lại trên một con đường. Một con đường mà nhiều khi tôi cũng không biết nó sẽ dẫn tới đâu. Chỉ biết rằng, nó cần thiết hơn những gì tôi nghĩ là cần thiết.

Tôi còn nhớ chuyến retreat đầu tiên. Lúc đón khách, tôi khá hồi hộp, không biết sẽ đối diện với mọi người như thế nào. Người cứ đến và mọi thứ cứ được xếp đặt một cách vừa vặn. Lúc ấy, tôi cứ như thể cá gặp nước, được bơi thong dong trong chính vùng nước ấm của mình.

Ngay cả buổi mời trà đầu tiên. Đó là một buổi chiều nắng vàng rực. Hai người cùng ngồi ở lầu Ngưng Bích. Và rồi đột nhiên tôi thấy người kia bật khóc. Anh vốn là một người đàn ông rắn rỏi, từng trải, anh kể về những năm tháng của cuộc đời mình và cả những bí mật thầm kín chưa từng dám nói với ai, cho một người lần đầu gặp là tôi.

Lúc đó, tôi mới ngờ ngợ nhận ra rằng. Thì ra sự hiện diện của mình, cũng có thể khiến người khác cảm thấy an toàn.

Rồi người thứ hai, người thứ ba. Những câu chuyện nối tiếp nhau. Tôi như thấy được những điều vượt ra ngoài lời kể của họ. Và từ khoảnh khắc đó, tôi hiểu: công việc này vốn dĩ đã là của mình.

Từ chuyến retreat đầu tiên ấy, tôi chưa bao giờ chuẩn bị cho các buổi mời trà theo cách thông thường. Từ những người có học vị cao, những người giàu có, những cô chú từng trải gấp đôi tuổi mình, cho đến những em nhỏ nổi loại ở tuổi vị thành niên…
Cũng may là tôi chưa thấy bối rối hay bế tắc trong những cuộc trò chuyện đó.

Những lúc ấy, tôi mơ hồ thấy mình đang thở trong một bầu không gian. Nơi mọi thứ tuần tự diễn ra, được lật giở, được soi rọi, như trước một ngọn đèn.

Tất nhiên, cũng có những cái khó riêng. Cái khó là biết nên nói gì và không nên nói gì. Điều gì phù hợp với vốn liếng của người đối diện ở thời điểm đó. Không phải điều gì cũng nên nói ngay. Có những điều phải đợi đến lần ghé thăm thứ ba, thứ tư, tôi mới bắt đầu chia sẻ.

Nếu hỏi tôi có từng sợ không, thì có. Tôi từng tự hỏi mình có nên học thêm tâm lý học, coaching, healing, mentoring… để có một nền tảng rõ ràng hơn hay không. Nhưng rồi, khi nhìn quanh, tôi nhận ra những con đường đó không thuộc về mình.

Người thiên về lý trí cần dẫn chứng, cần gọi tên, cần phương pháp, cần quy trình. Họ sẽ tìm đến những coach, healer, mentor phù hợp với nhu cầu đó.

Còn tôi, nghĩ mãi vẫn không thấy mình thuộc về vị trí ấy. Tôi chưa bao giờ có ý định chữa trị hay thúc đẩy ai. Bởi đến cùng, ai cũng phải đi qua bài học của chính mình. Những gì đã gieo, đến lúc sẽ trổ. Việc nhận hay không nhận không nằm ở sự phán xét tốt xấu của ta. Mọi thứ đều vận hành theo cách của nó, kể cả nỗi đau và mất mát. Vậy thì có gì để sửa?

Vai trò của tôi ở đây, nếu có, chỉ là một người thấy. Thấy rồi, nếu cần, nhắc. Còn đi tiếp hay không, là việc của mỗi người.

Vì vậy, retreat ở mlf được đặt trên một nền tảng khác.
Không chữa ai cả.

Chúng tôi tạo ra một bầu không khí an toàn, trong lành, mà chính chúng tôi đang sống trong đó mỗi ngày. Không phải một nơi đẹp đẽ thu hút để ghé qua, mà là nơi từng vật dụng đều được chạm tay tới, từng nhịp sống đều được gìn giữ. Nơi mà chúng tôi sống với những điều mình đang nói.

Ở đó, mọi người có thể từ từ đặt xuống những thứ mình đang mang theo.
Và tự hỏi:
mình đã mang nó bao lâu rồi?
mang vì điều gì?
và bây giờ, nó có còn thật sự cần thiết không?

Vì thế, chúng tôi hay nói mlf là nơi để mọi thứ nảy mầm. Chứ không phải nơi tạo ra mầu nhiệm.

Chúng tôi không xoay chuông để ai đó giác ngộ. Không mặc áo trắng để giữ năng lượng tinh khôi. Không làm nghi lễ để kết nối đất trời.

Không vay mượn mà đứng lên từ chính nội lực của mình. Nếu trong đêm tối, hãy tự thắp ngọn đèn mà đi.

Chính vì vậy, tôi cũng không so sánh mlf với những nơi nghỉ dưỡng có cảnh đẹp lay động. Cũng không so sánh mình với các wellbeing center có quy trình và tiêu chuẩn bài bản để làm việc với thân-tâm.

mlf là một điều gì đó mộc. Không phải  kiểu mộc mạc sơ sài, mà là không tô vẽ, để mộc.

Có thời gian, tôi tự vấn rất nhiều: mình đang dẫn mlf đi về đâu, giữa một xã hội mà ai cũng đang chứng tỏ mình hay, mình đúng?

Tôi từng mắc kẹt trong những suy nghĩ ấy.

Thành thật mà nói, tôi từng nghĩ mình có thể biến mlf thành một trung tâm tinh thần mang màu sắc Phật giáo. Hoặc nếu muốn, tôi cũng có thể biến mlf thành nơi chia sẻ các kiến thức khoa học tâm linh, nói về tần số, năng lượng, rung động…

Nhưng tôi cứ lửng lơ giữa hai bờ.
Giữa Đời và Đạo.
Sợ bị nhìn là quá “xôi thịt”, nhưng cũng sợ bị đặt lên vị trí “bậc thầy”.

Chính nỗi sợ đó giữ tôi lại đủ lâu. Để những điều bên trong được nung nấu. Như một hạt mầm nằm yên trong đất, chờ ngày nảy nở.

Gần đây, những gì đang diễn ra ở mlf nói với tôi rõ ràng hơn. Về một con đường ở giữa. Song song với những con đường từng khiến tôi đắn đo.

Nếu bây giờ có ai khuyên tôi vào thiền viện để sống đời tu hành, tôi sẽ không còn ngần ngại nói “không”. Thật ra, đã có lúc tôi rất muốn nương tựa nơi cửa Phật, để giảm thiểu con đường thế gian, mà đi cho trọn con đường bên trong.

Nhưng rồi tôi nhận ra, đó cũng chỉ là một ước muốn thế gian khác. Một cách né tránh những phiền toái của đời sống: tình cảm, mối quan hệ, được-mất, bữa cơm, manh áo… Tôi cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, được sinh ra ở đây là để sống trọn vẹn đời sống này. 

Dù có nhận ra điều gì cao siêu đi nữa. Thì một điều cố hữu, thế gian là chất liệu tu tập.

Người khác có thể kết nối với một vị thầy Nam Tông, Bắc Tông, Mật Tông, một tu sĩ, một tiến sĩ tâm lý, một thiền sư, một healer… Điều đó phù hợp với nghiệp và duyên của họ ở giai đoạn đó.

Còn với những ai chưa có sự kết nối rõ ràng, tôi sẽ là người đưa đò. Đưa sang sông, rồi thôi.

Vì vậy, tôi không muốn khoác lên mình chiếc áo Phật tử, thiền sư hay bất kỳ danh xưng nào. Ít nhất là trong nhiều năm tới. Tôi muốn có thể nói chuyện với người Công giáo, người Đạo giáo, người vô thần, và cả những người mà đức tin duy nhất của họ là chính mình.

Đó là con đường của tôi.
Và mlf là nơi tôi đang từng bước đi trên con đường đó.

Câu chuyện đã dài, lần tới, tôi sẽ kể thêm về mlf và những gì sắp tới!